Mục lục bài viết
Cơ sở pháp lý
– Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014
– Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT – BTP – BCA – TANDTC – VKSNDTC
1. Một số vấn đề cơ bản về chế độ hôn nhân một vợ một chồng
Hôn nhân một vợ một chồng là một trong những nguyên tắc cơ bản, hàng đầu của chế độ hôn nhân và gia đình. Quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng”. Điều 36 Hiến Pháp 2013 quy định: “Hôn nhân theo nguyên tắc một vợ một chồng”.
Theo đó, có thể hiểu rằng, nguyên tắc này đặt ra quy định: mỗi cá nhân đã kết hôn chỉ được có một vợ hoặc một chồng; và trong thời kỳ hôn nhân, không được kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác. Hay nói cách khác, pháp luật cấm kết hôn giữa những người đang có vợ hoặc đang có chồng; cấm chung sống như vợ chồng với những người đang có vợ hoặc đang có chồng.
2. Vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng
Đây là hành vi của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ (khoản 1 Điều 182 Bộ Luật Hình sự 2015).
Theo khoản 3.1 Điều 3 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT – BTP – BCA – TANDTC – VKSNDTC giải thích về việc sống chung với nhau như vợ chồng phải có đặc điểm sau đây:
- Đang có vợ hoặc có chồng mà chung sống với người khác hoặc chưa có vợ, có chồng mà chung sống với người mình biết rõ đang có chồng, có vợ;
- Việc chung sống diễn ra một cách công khai hoặc không công khai nhưng phải cùng sinh hoạt chung như một gia đinh.
Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm, xã hội coi như vợ chồng; có tài sản chung … và đã bị gia đình, đoàn thể, cơ quan giáo dục những vẫn tiếp tục duy trì mối quan hệ đó.
3. Ngoại tình có vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng không?
Hiện nay, pháp luật chưa đưa ra một định nghĩa chính xác thế nào là ngoại tình. Tuy nhiên, thuật ngữ này thường được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, khi người ta muốn nhắc đến mối quan hệ tình cảm của vợ/chồng hợp pháp với người thứ ba.
Trong cuộc sống, tình trạng này xảy ra khá phổ biến khi không ít người đã nảy sinh tình cảm, có quan hệ yêu đương… với người khác khi đã có vợ/chồng. Tuy nhiên, không phải mọi quan hệ ngoại tình đều bị coi là vi phạm chế độ một vợ một chồng khi không có một trong các đặc điểm nêu trên.
Tuy nhiên, mặc dù có thể hành vi ngoại tình chưa đến mức độ bị coi là vi phạm chế độ một vợ một chồng, nhưng khi một trong hai người vợ hoặc chồng khi đã ngoại tình thì đồng nghĩa với việc vi phạm quyền, nghĩa vụ được quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.”
Do đó, nếu trường hợp trên xảy ra, người còn lại vẫn hoàn toàn có thể căn cứ vào lỗi này của vợ, chồng mình để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của bản thân trong việc chia tài sản chung vợ chồng hoặc giành quyền nuôi con.
4. Xử lý vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng
4.1. Xử lý hành chính hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng
Theo quy định tại Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ – CP, sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 67/2015/NĐ – CP:
“Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng:
- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ.”
4.2. Xử lý hình sự hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng
Căn cứ vào Điều 182 Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi năm 2017 tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng như sau:
“Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
c)Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
d) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
e) Đã có quyết định của Toà án huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.”
Có thể thấy, BLHS 2015 đã cụ thể hoá hơn so với quy định của BLHS 1999 khi chỉ quy định đối tượng phải chịu trách nhiệm hình sự với hành vi “gây hậu quả nghiêm trọng” mà không giải thích thế nào là hậu quả nghiêm trọng. Điều này giúp xác định đúng đối tượng và giải quyết dễ dàng, nhanh chóng hơn.
CÔNG TY TNHH LUẬT KHANG PHÁT VÀ CỘNG SỰ chuyên tư vấn và thực hiện thủ tục thủ tục ly hôn, tranh chấp hôn nhân và gia đình. Trong đó:
- Tư vấn các quy định pháp luật về ly hôn khi một trong hai bên ngoại tình, tư vấn giành quyền nuôi con;
- Tư vấn và soạn thảo hồ sơ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Hỗ trợ khách hành thu thập hồ sơ, tài liệu, chứng cứ.
- Tư vấn quá trình giải quyết các tranh chấp hôn nhân và gia đình tại Tòa án có thẩm quyền.
Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ qua hotline: 0862 773 221 để nhận được sự tư vấn hoặc gửi thắc mắc tới Email: lienheluatkhangphat@gmail.com để được hỗ trợ cụ thể hơn.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
