Mục lục bài viết
- 1 Căn cứ pháp lý:
- 2 1. Sổ đỏ chỉ đứng tên vợ hoặc chồng thì khi ly hôn phân chia như thế nào?
- 2.1 1.1. Trường hợp nhà đất là tài sản chung
- 2.1.0.1 – Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng: tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế.
- 2.1.0.2 – Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung: sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người ở nhà chăm sóc gia đình được coi là có đóng góp tương đương với thu nhập của người dân đi làm. Bên đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn và thông tin này phải có bằng chứng xác thực.
- 2.1.0.3 – Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập: khi chia tài sản chung, Tòa án phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hành nghề hoặc sản xuất, kinh doanh có điều kiện tiếp tục công việc của mình để tạo thu nhập. Nếu tài sản chia không đều, bên nhận ít hơn phải thanh toán phần chênh lệch cho bên kia. Việc bảo vệ lợi ích này không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, hoặc con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.
- 2.1.0.4 – Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng: lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn. Ví dụ: Người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.
- 2.2 1.2. Trường hợp nhà đất là tài sản riêng của vợ hoặc chồng
- 2.1 1.1. Trường hợp nhà đất là tài sản chung
- 3 2. Dịch vụ tư vấn pháp luật về Hôn nhân và gia đình của Công ty Luật TNHH Khang Phát và Cộng sự
Căn cứ pháp lý:
– Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Nếu đất là tài sản chung thì vợ chồng thường sẽ cùng đứng tên trên Sổ đỏ. Vậy khi Sổ đỏ chỉ để tên một người thì tài sản đấy được phân chia như thế nào? Và có nguyên tắc nào được áp dụng lúc phân chia không? Hãy cùng tìm hiểu những nội dung này qua bài viết dưới đây của Luật Khang Phát!
1. Sổ đỏ chỉ đứng tên vợ hoặc chồng thì khi ly hôn phân chia như thế nào?

Khi ly hôn, Tòa án sẽ ưu tiên phân chia tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng. Tuy nhiên, nếu vợ chồng không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được mà phải khởi kiện ra Tòa thì Tòa án sẽ dựa vào quy định của pháp luật cũng như các yếu tố khác để phân chia tài sản chung của vợ chồng.
Đối với trường hợp sổ đỏ chỉ đứng tên vợ hoặc chồng nhưng được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, Tòa án sẽ chia tài sản theo hai trường hợp sau:
1.1. Trường hợp nhà đất là tài sản chung
Theo quy định, giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng. Tuy nhiên, nếu có thỏa thuận chỉ một trong hai bên đứng tên, tài sản đó vẫn thuộc nhóm tài sản chung của vợ chồng. Và khi ly hôn, tài sản chung sẽ được chia theo thỏa thuận hoặc Tòa án giải quyết theo nguyên tắc chia đôi (nếu không có thỏa thuận).
Căn cứ khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và hướng dẫn chi tiết tại khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, tài sản chung của vợ chồng theo nguyên tắc được chia đôi nhưng phải xét đến các yếu tố sau:
– Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng: tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế.
– Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung: sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người ở nhà chăm sóc gia đình được coi là có đóng góp tương đương với thu nhập của người dân đi làm. Bên đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn và thông tin này phải có bằng chứng xác thực.
– Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập: khi chia tài sản chung, Tòa án phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hành nghề hoặc sản xuất, kinh doanh có điều kiện tiếp tục công việc của mình để tạo thu nhập. Nếu tài sản chia không đều, bên nhận ít hơn phải thanh toán phần chênh lệch cho bên kia. Việc bảo vệ lợi ích này không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, hoặc con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.
– Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng: lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn. Ví dụ: Người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.
Và có hai cách để phân chia tài sản: chia bằng hiện vật hoặc chia theo giá trị. Nếu bên nào nhận được tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn so với phần đáng nhẽ bản thân được hưởng thì phải thanh toán cho bên còn lại phần chênh lệch đó.
1.2. Trường hợp nhà đất là tài sản riêng của vợ hoặc chồng
Theo khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì “Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.” Ví dụ: của hồi môn ba mẹ, người thân cho trước khi lấy chồng, lấy vợ; tài sản mà vợ hoặc chồng được thừa kế từ người nhà; tài sản phát sinh từ việc sáng tạo, lao động trí óc (liên quan đến sở hữu trí tuệ) của vợ/chồng nếu không có thỏa thuận đấy là tài sản chung; …
Và khoản 4 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đề cập: “Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.”
Như vậy, nếu không có thỏa thuận nào khác, nhà đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó, người còn lại sẽ không được chia và không có quyền yêu cầu chia nhà đất.
2. Dịch vụ tư vấn pháp luật về Hôn nhân và gia đình của Công ty Luật TNHH Khang Phát và Cộng sự
Công ty Luật TNHH Khang Phát và Cộng sự chuyên tư vấn pháp luật trên nhiều lĩnh vực, trong đó có tư vấn về Hôn nhân và gia đình với tiêu chí:
– Linh động, hỗ trợ khách hàng để đạt hiệu quả tối ưu nhất;
– Thời gian giải quyết các vấn đề pháp lý nhanh, chính xác và bàn giao kết quả đúng với thời gian đã hẹn;
– Tiết kiệm được thời gian, chi phí đi lại cho khách hàng;
– Chi phí dịch vụ của Luật Khang Phát có tính cạnh tranh cao, tùy vào tính chất vụ việc cụ thể. Với mức giá cả hợp lý với dịch vụ một cách tốt nhất. Chi phí phù hợp nhất.
Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ qua hotline: 0862 773 221 để nhận được sự tư vấn hoặc gửi thắc mắc tới Email: lienheluatkhangphat@gmail.com để được hỗ trợ cụ thể hơn
