Mục lục bài viết
Cơ sở pháp lý
– Luật Hôn nhân và Gia đình 2015
1. Phong tục bắt vợ của một số dân tộc
Bản chất:
Tục bắt vợ là một phong tục truyền thống của người Mông và người Thái. Trước đây, tục bắt vợ được coi là một phong tục tốt đẹp và nhân văn của các dân tộc này. Đối với hai bên nam nữ muốn kết hôn, điều kiện để thực hiện thủ tục này là cả hai phải yêu thương nhau thật lòng. Quan trọng là hai người cần phải đủ tuổi để kết hôn.
Thực trạng biến tướng:
Hiện nay, phong tục này đã bị biến tướng và trở thành một hiện tượng xấu trong xã hội. Rất nhiều thanh niên lợi dụng tục bắt vợ để ép buộc các cô gái trở thành vợ của mình mà không có sự đồng ý của người kia. Theo quy định của pháp luật, việc này đã vi phạm quy tắc tự nguyện trong hôn nhân. Đây là một trong các trường hợp bị cấm kết hôn theo quy định. Do đó, tục bắt vợ đã trở thành một hiện tượng xấu và không còn được khuyến khích.
Không chỉ vậy, nhiều người còn lợi dụng tục này để tổ chức đám cưới cho nam nữ chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Tục bắt vợ có được xem là hành vi cưỡng ép kết hôn hay không?
Theo khoản 9 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 giải thích hành vi cưỡng ép kết hôn như sau:
“Cưỡng ép kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn hoặc ly hôn trái với ý muốn của họ”.
Theo khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình như sau:
“1. Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
2. Cấm các hành vi sau đây:
a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
e) Yêu sách của cải trong kết hôn;
f) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;
g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;
h) Bạo lực gia đình;
i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.
3. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật”.
Theo đó, pháp luật nghiêm cấm các hành vi tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn và cản trở kết hôn, … Đây là một quy định bảo đảm việc thực hiện chế độ hôn nhân và gia đình.
Như vậy, tục bắt vợ mà không xuất phát từ tình cảm, trái với mong muốn của bên còn lại thì được xem là hành vi cưỡng ép kết hôn.
2. Xử lý vấn đề liên quan đến tục bắt vợ
a) Cưỡng ép kết hôn
– Xử phạt hành chính: Phạt tiền từ 10 – 20 triệu đồng (Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP: “Cưỡng ép kết hôn hoặc lừa dối kết hôn; cưỡng ép ly hôn hoặc lừa dối ly hôn”).
– Trách nhiệm hình sự:
Theo Điều 181 Bộ luật Hình sự 2015 quy định:
“Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm”.
Do đó, người này có thể bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng – 03 năm về Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện nếu:
+ Cưỡng ép người khác kết hôn trái sự tự nguyện của họ.
+ Đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm.
b) Tảo hôn
– Xử phạt hành chính: Phạt tiền từ 03 – 05 triệu đồng nếu vẫn giữ mối quan hệ vợ chồng trái luật với người chưa đủ tuổi kết hôn dù Toà án đã có bản án, quyết định có hiệu lực về việc chấm dứt quan hệ này.
– Chịu trách nhiệm hình sự: Căn cứ Điều 183 Bộ luật Hình sự về Tội tổ chức tảo hôn thì người tổ chức tảo hôn cho người chưa đủ tuổi kết hôn sẽ bị phạt tù đến 02 năm.
CÔNG TY TNHH LUẬT KHANG PHÁT VÀ CỘNG SỰ chuyên tư vấn và thực hiện thủ tục thủ tục ly hôn, tranh chấp hôn nhân và gia đình. Trong đó:
- Tư vấn các quy định pháp luật về ly hôn, tư vấn giành quyền nuôi con;
- Tư vấn về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con;
- Tư vấn và soạn thảo hồ sơ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Hỗ trợ khách hành thu thập hồ sơ, tài liệu, chứng cứ.
- Tư vấn quá trình giải quyết các tranh chấp hôn nhân và gia đình tại Tòa án có thẩm quyền.
Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ qua hotline: 0862 773 221 để nhận được sự tư vấn hoặc gửi thắc mắc tới Email: lienheluatkhangphat@gmail.com để được hỗ trợ cụ thể hơn.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
