Có thể hiểu, việc chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn là việc nam nữ đủ điều kiện đăng ký kết hôn, tổ chức cuộc sống chung và coi nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Mặc định quan hệ trên là quan hệ giữa 02 người khác giới.
Mục lục bài viết
1. Cơ sở pháp lý của việc chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
– Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
– Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
2. Căn cứ xác định chung sống như vợ chồng mà không đăng lý kết hôn
Hướng dẫn tại điểm d mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 về xác định thế nào là chung sống như vợ chồng:
“Được coi nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;
- Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;
- Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;
- Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.
Thời điểm nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng là ngày họ tổ chức lễ cưới hoặc ngày họ về chung sống với nhau được gia đình (một hoặc cả hai bên) chấp nhận hoặc ngày họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến hoặc ngày họ thực sự bắt đầu chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình”.
3. Hệ quả pháp lý của việc chung sống như vợ chồng mà không đăng lý kết hôn
a) Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng giữa hai người chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
Không có mối liên hệ pháp lý như vợ chồng (Điều 14, khoản 1): Nếu có yêu cầu xin ly hôn thì toà ra quyết định không công nhận quan hệ hôn nhân.
Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
“1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.
2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại Khoản 1 nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn”.
b) Quan hệ tài sản và nghĩa vụ hợp đồng giữa hai người chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
“1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thoả thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thoả thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con, công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập”.
Trong quan hệ giữa hai người chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, sẽ không có tài sản chung hợp nhất mà chỉ có tài sản chung theo phần.
Quan hệ với người thứ ba: Các giao dịch xác lập với người thứ ba được điều chỉnh bởi Bộ luật dân sự 2015, bên nào xác lập có hiệu lực với bên đó (trừ trường hợp pháp luật quy định khác). Trách nhiệm liên đới chỉ phát sinh nếu có căn cứ bày tỏ ý chí về thiết lập tình trạng liên đới.
c) Quan hệ giữa hai người chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn và con
Quan hệ này sẽ không bị chi phối bởi tình trạng pháp lý của cha mẹ và vẫn có thể đăng ký khai sinh cho con. Điều 15 Luật HN&GĐ: “Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con”.
Theo đó, trong quan hệ cha, mẹ, con thì nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng có quyền và nghĩa vụ sau:
- Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.
- Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
- Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.
- Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Khi có sự tranh chấp con giữa hai bên xảy ra, vợ/ chồng có thể thỏa thuận với nhau về người trực tiếp nuôi dưỡng; quyền và nghĩa vụ của mỗi người đối với con. Nếu không xử lý được thì Tòa sẽ xử lý như đối với trường hợp ly hôn, Tòa sẽ quyết định giao con cho một bên nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con, nếu con từ đủ 7 tuổi thì phải xem xét nguyện vọng của con. Người còn lại không trực tiếp nuôi sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con (Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình 2014).
4. Ngoại lệ của chung sống như vợ chồng mà không đăng lý kết hôn
Chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn trước ngày 3/1/1987: khoản 2 Điều 44 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định:
“Đối với các trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích và tạo điều kiện để đăng ký kết hôn. Quan hệ hôn nhân được công nhận kể từ ngày các bên xác lập quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng. Thẩm quyền, thủ tục đăng ký kết hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 18 của Luật hộ tịch”.
Đồng thời, khoản 1 Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết”.
Trường hợp này, hai bên chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn trước thời điểm ngày 03/01/1987, do vậy sẽ áp dụng quy định của Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Thông tư số 01/2001/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 để xem xét tính hợp pháp của quen hệ chung sống giữa hai bên.
Theo đó, điểm a mục 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội thì:
“Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 1 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000”.
Như vậy, đối với những trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn với nhau trước ngày 03/01/1987, hiện họ chưa đăng ký kết hôn thì vẫn được pháp luật công nhận là vợ chồng (hôn nhân thực tế).
CÔNG TY TNHH LUẬT KHANG PHÁT VÀ CỘNG SỰ chuyên tư vấn và thực hiện thủ tục thủ tục ly hôn, tranh chấp hôn nhân và gia đình. Trong đó:
- Tư vấn các quy định pháp luật về ly hôn, tư vấn giành quyền nuôi con;
- Tư vấn về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con;
- Tư vấn và soạn thảo hồ sơ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Hỗ trợ khách hành thu thập hồ sơ, tài liệu, chứng cứ.
- Tư vấn quá trình giải quyết các tranh chấp hôn nhân và gia đình tại Tòa án có thẩm quyền.
Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ qua hotline: 0862 773 221 để nhận được sự tư vấn hoặc gửi thắc mắc tới Email: lienheluatkhangphat@gmail.com để được hỗ trợ cụ thể hơn.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
